Wednesday, 18 November 2015

CẠNH TRANH TỪ NƯỚC NGOÀI KHUẤY ĐỘNG THỊ TRƯỜNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

Có trụ sở chính tại Singapore, Lazada là một trong những Công ty thương mại điện tử đang tạo ra làn sóng cạnh tranh giữa các Công ty bán hàng trực tuyến. Và các công ty trong nước cũng đang “vật lộn” trong cuộc cạnh tranh ngày càng có nhiều Công ty nước ngoài tìm đến thị trường Việt Nam – một thị trường mới, có nhiều bước tăng trưởng mạnh mẽ.

shutterstock_326218616

Lazada đã nhanh chóng trở thành một trong những “anh lớn” trong lĩnh vực thương mại điện tử Châu Á, bằng việc có mặt ở hầu hết các nước như Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philipines, Hồng Kông và Trung Quốc. Chi nhánh tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, chiếm thị phần 22% kể từ khi “nhập cảnh” vào năm 2012. Lazada xây dựng kế hoạch mở rộng nền tảng trực tuyến và thương mại theo hình thức B2C (Business-to-Customer).

Các đối thủ cạnh tranh luôn thận trọng để mắt tới Lazada khi doanh nghiệp này có những động thái quyết liệt trong kinh doanh vào thị trường Việt Nam. Nhờ tìm lực tài chính, các công ty nước ngoài  mang đến đến sự cạnh tranh mạnh mẽ  cho thị trường địa phương, mà Lazada là được cái tên đầu tiên được nhắc đến. Và đương nhiên, Lazada cũng đầu tư rất mạnh vào việc phát triễn chuỗi vật tư, sản phẩm, kho hàng cũng như dịch vụ giao hàng đáng tin cậy để không phụ kỳ vọng của khách hàng.

Thực tế cho thấy, chiến lược tiếp cận thị trường Việt Nam của Lazada được xem là “tuyên chuyến” với các trang web hàng đầu Việt Nam như Chodientu.vn, chủ yếu tập trung vào kinh doanh C2C. Hiện nay, chodientu có thị phần 29% trong thị trường e-commerce Việt nam. Cả hai trang web Lazada và Chodientu đã và đang dẫn đầu trong cách thức sáng tạo để mở rộng thị trường kinh doanh và tiếp cận khách hàng mục tiêu. Ví dụ, cả hai trang web đều thu hút các nhà cung cấp bằng hình thức như không thu phí hàng tháng và chỉ thu phí dựa trên sản phẩm được bán ra.

Về thanh toán, cả 2 trang web đều tạo ra công cụ thanh toán trực tuyến tiện lợi và an toàn cho người dùng. Lazada đã thiết lập các thỏa thuận hợp tác với khoảng 25 ngân hàng trong nước và dự định sẽ chính thức hóa các thỏa thuận với các đơn vị có thể cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ. Chodientu đã hợp tác với Techcombank, Đông Á Bank và OnePay A, cũng như các tổ chức Quốc tế khác. Bên cạnh đó, Chodientu còn phát triển công cụ thanh toán trực tuyến riêng – Nganluong.vn – và trở thành Cổng thanh toán trực tuyến hàng đầu Việt Nam.

shutterstock_305768756

Mặc dù tăng tưởng mạnh mẽ trong thị trường thương mại điện tử Việt Nam, tuy nhiên các Doanh nghiệp này vẫn gặp nhiều rào cản cần phải vượt qua. Chủ yếu là sự thiếu tin tưởng từ người tiêu dùng đối với các sản phẩm được đặt mua trực tuyến – thay thế cho thói quen kiểm chứng và đánh giá sản phẩm trước khi mua hàng ở các cửa hàng truyền thống. Lazada đã cho ra mắt dịch vụ khách hàng, dịch vụ này cho phép khách hàng nhận và đánh giá sản phẩm trước khi thanh toán. Và được cho phép trả hàng trong vòng 30 ngày nếu có lỗi phát sinh hoặc khách hàng không hài lòng.

Hai website kể trên không phải là đối tượng duy nhất trong cuộc cạnh tranh này, các công ty đáng chú ý khác như Vatgia, Hotdeal và Tiki.vn cũng góp phần làm cho thị trường thương mại điện tử Việt Nam ngày càng sôi động./.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐỒ UỐNG VÀ SỰ CẠNH TRANH ĐẾN TỪ NGUỒN VỐN NƯỚC NGOÀI

Sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp nước giải khát Việt Nam ngày càng được đẩy lên cao bởi sự gia tăng vốn nước ngoài. Do sự phát triển toàn cầu hóa, thị trường đồ uống ngày càng được quan tâm và sự cạnh tranh cũng dần được hình thành. Các nhà sản xuất đồ uống và nước giải khát trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc nâng cấp dây chuyền sản xuất cũng như phải nâng cao chất lượng sản phẩm để đảm bảo thị phần.

shutterstock_291233285

Các nhà sản xuất đồ uống trong nước đang đối mặt với nhiều thách thức khi quy mô sản xuất ngày càng bị thắt giảm bởi sự nổi lên mạnh mẽ đến từ các đối thủ nước ngoài. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và các công ty thương mại nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ và đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm đạt chất lượng tiêu chuẩn với giá thành cạnh tranh, đang trở thành xu xướng kinh doanh mang lạ hiệu quả. Để giữ vững thị phần và tăng trưởng bền vững, các thương hiệu sản xuất đồ uống trong nước luôn tìm cách cải thiện chất lượng sản phẩm, đầu tư về mặt nguyên liệu cũng như áp dụng triệt để công nghệ sản xuất tiên tiến.

Theo Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của thị trường đồ uống trong nước đang có xu hướng giảm xuống kể từ năm 2012.Theo thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bình của thị trường đồ uống trong nước từ năm 2008 đến năm 2011 đạt 17%, năm 2012 đạt 6% và giảm xuống còn 4% trong năm 2014.

shutterstock_248130202

Một trong những lý do cho sự giảm thiểu này là sự xuất hiện của các công ty sản xuất đồ uống nước ngoài đã gây áp lực to lớn đối với các nhà sản xuất trong nước. Đặc biệt, nhiều nhà sản xuất vừa và nhỏ đã bị các đối thủ nước ngoài đè bẹp trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này. Khi Việt Nam kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA), mức thuế được xóa bỏ và gần như là 0% đối với sản phẩm đồ uống, sự cạnh tranh trở nên ngày càng gay gắt hơn.

Một ví dụ điển hình là thương vụ mua lại toàn bộ cổ phần của một trong những công ty sản xuất đồ uống tên tuổi của thị trường trong nước Tribeco của tập đoàn Uni President (Đài Loan).

Hay sự lấn sân của tập đoàn Kirin Holdings Nhật Bản, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực đồ uống, đã trở thành cổ đông và tham gia vào công tác quản lý kinh doanh  tại Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Quốc Tế (Interfood) từ năm 2011. Biến Iterfood thành công ty con của mình, Kirin thiết lập hai nhà máy chính, một chuyên sản xuất các sản phẩm đóng lon vớ thương hiệu Wonderfarm, và một nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đóng chai mang thương hiệu Kirin nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nước giải khát Việt Nam.

shutterstock_282634016

Nhắc đến sức ép cạnh tranh từ thị trường đồ uống không thể bỏ qua hai cái tên lớn mang thương hiệu toàn cầu là Coca Cola và Pepsi-co. Pepsi-co và Công ty sản xuất nước giải khát, đồ uống Nhật Bản Suntory Holdings Limited đã công bố thỏa thuận thiết lập liên doanh chiến lược tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm hợp tác rất thành công tại các thị trường đồ uống khác như Mỹ, Nhật và New Zealand.

Nhu cầu về đồ uống đối với một thị trường hơn 85 triệu dân như Việt Nam quả là “miếng bánh ngon” cho các Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nước giải khát. Với chiến lược dài lâu và mục tiêu bao phủ thị trường đồ uống Đông Nam Á, chắc chắn sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp này sẽ ngày càng gay gắt hơn, và sự cạnh tranh cũng đem đến cho người tiêu dùng Việt Nam nhiều lợi ích./.

 

CẠNH TRANH GIỮA CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN VÀ HÀN QUỐC TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Việt Nam là điểm đến an toàn cho các Doanh nghiệp Hàn Quốc trong những năm gần đây.

Điển hình cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam của các Tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc là Samsung Electronics. Tập đoàn này đã xây đựng nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Bắc Ninh năm 2009, và nhà máy thứ hai tại Tỉnh Thái Nguyên. Sự phát triển của tập đoàn Samsung  trong mảng xuất khẩu điện thoại và linh kiện điện tử đã góp phần làm tăng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2014.

shutterstock_232189465

Nền tảng của việc gia tăng đầu tư từ phía Hàn Quốc trực tiếp cho Việt Nam được các chuyên gia nhận định rằng do nhiều lý do. Từ những năm 90, khi những Công ty sản xuất của Hàn Quốc trong lĩnh vực may mặc đầu tư vào Việt Nam gặt hái được nhiều thuận lợi nhờ lượng lao động dồi dào và chi phí thuê nhân công rẻ hơn so với Trung Quốc. Hơn nữa, việc các nhà máy tại Trung Quốc dần chuyển đổi từ sản xuất hàng xuất khẩu sang sản xuất hàng hóa phục vụ cho thị trường nội địa, thì Việt Nam trở thành “điểm đến” mới của các nhà đầu tư Hàn Quốc khi đáp ứng được nhu cầu về sản xuất hàng hóa cho khu vực ASEAN và cho cả lĩnh vực xuất khẩu.

Khu vực ASEAN được xem là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các Công ty Hàn Quốc và Nhật Bản. Nếu các công ty này xây dựng mục tiêu là bán hàng cho khu vực ASEAN thì cần phải đặt một cơ sở sản xuất trong khu vực này. Và Việt Nam phù hợp với hầu hết các tiêu chí “có thể xuất khẩu”, “là nước tham gia đàm phán TPP”. Khi thỏa thuận TPP có hiệu lực, các doanh nghiệp sẽ có nhiều lợi thế khi xuất khẩu sang Mỹ hoặc Úc. Và dự kiến, ngoài những ngành công nghiệp mà Hàn Quốc đang đầu tư tại Việt Nam như điện tử thì các lĩnh vực khác cũng sẽ tiếp tục tăng mạnh trong tương lai.

Sự gia tăng đầu tư của các Công ty Hàn Quốc vào Việt Nam có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các Công ty Nhật Bản, khi việc kinh doanh ngày càng mở rộng, sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ hơn.

shutterstock_218121436

Trong lĩnh vực bán lẻ, Việt Nam liên tiếp đón nhận những nhà đầu tư nước ngoài như hệ thống Aeon Mall của Nhật và Lotte Mart của tập đoàn Lotte Hàn Quốc. Aeon Mall đã mở cửa hàng đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 1 năm 2014, và mở tiếp cửa hàng thứ 2 tại Bình Dương vào tháng 11 cùng năm. Tập đoàn bán lẻ lớn nhất Nhật Bản này tiếp tục có tham vọng mở thêm các trung tâm khác ở những khu vực tập trung trọng điểm như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Còn Lotte Mart cũng đạt mốc 10 siêu thị bán lẻ có mặt tại Việt Nam. Tiếp nối Lotte, một tập đoàn bán lẻ khác của Hàn Quốc là E-mart cũng đã xác nhận việc đầu tư vào Việt Nam cuối năm 2015. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của hai cường quốc Châu Á này đem lại cho Việt Nam một chuyển biến tích cực trong nền kinh tế, tuy sự cạnh tranh là không thể tránh khỏi, tuy nhiên các nhà đầu tư cũng dự đoán sẽ có nhiều cơ hội hợp tác mở ra cho cả hai nước.

 

THỊ TRƯỜNG THỨC ĂN NHANH VIỆT NAM – CUỘC CHIẾN CỦA CÁC “ÔNG LỚN” NƯỚC NGOÀI

Thị trường thức ăn nhanh của Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng hiện nay, khi mà dân số Việt Nam đang phát triển theo xu hướng trẻ; năng động; xu hướng công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, thị trường thức ăn nhanh phát triển với tốc độ chóng mặt ghi nhận bằng hàng loạt các thương hiệu lớn của nước ngoài tiến vào Việt Nam như Lotteria (Hàn Quốc), Jollibee (Philippin), Pizza Hut (Mỹ), Pizza Dominos (Mỹ), Burger King (Mỹ) …và mới đây nhất là hai thương hiệu lớn McDonald’s; Starbucks. Dự đoán sự phát triển chưa dừng lại ở đó khi mà nhiều thương hiệu lớn khác đang tiến hành thăm dò thị trường, tạo tiền đề cho sự gia nhập vào thị trường thức ăn nhanh Việt Nam như Pollo Tropical, Dennys…

shutterstock_181637984

Giữa hàng loạt các tên sừng sỏ như vậy, gần như không có cái tên của doanh nghiệp Việt Nam nào có thể nổi bật lên và có khả năng cạnh tranh ngang hàng. Trước đây có thể kể đến như Phở 24, Vietmac…nhưng hiện nay Phở 24 các doanh nghiệp này cũng bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy, có thể nói rằng cuộc chiến giành thị phần của thị trường thức ăn nhanh hiện nay ở Việt Nam chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau và trong cuộc chiến này thì phần thắng sẽ nghiêng về ai là đều rất khó có thể đoán được, bởi lẽ xét về tương quan về tiềm lực tài chính, kinh tế; uy tín thương hiệu thì các ông lớn này đều được đánh giá là ngang nhau. Như vậy, vấn đề then chốt quyết định thắng bại ở đây là chiến lược. Trong một sự cạnh tranh ngang tầm thì chiến lược bên nào tốt hơn bên đó sẽ dành chiến thắng.

Hiện nay, với hơn 20 năm tồn tại và gia nhập thị trường Việt Nam, KFC là thương hiệu hiện đang chiếm giữ nhiều thị phần nhất, theo sau đó là Lotteria; Jolibee; Burger King…tuy nhiên với sự “tham chiến” gần đây của McDonald’s thì cuộc đối đầu giữa các ông lớn này tại thị trường Việt Nam gần như xảy ra một cách trực diện, khó đoán trước.  Với sự gia nhập vào thị trường Việt Nam của McDonald’s các thương hiệu như KFC, Lotteria ngay lập tức tìm đối sách để có các động thái chuẩn bị để nghênh chiến, thể hiện thông qua việc tăng cường mở rộng các kênh phân phối. Cuộc đua giữa các doanh nghiệp ở lĩnh vực thức ăn nhanh chủ yếu được thực hiện thông qua việc mở rộng chuỗi cửa hàng. Bởi tính phổ cập và đại chũng chính là một trong những yếu tố quyết định nên sự thành công của một thương hiệu thức ăn nhanh.

shutterstock_238081966

Do đó, đây luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp này đặt lên hàng đầu. Và bởi vậy cuộc chiến tranh giành mặt bằng giữa các thương hiệu này diễn ra khốc liệt hơn bao giờ hết. Để có được những địa điểm cửa hàng đẹp, các thương hiệu có thể chấp nhận bỏ ra mức giá cao hơn gấp nhiều lần giá thị trường để giành lấy. Bên cạnh cuộc chiến địa điểm thì cuộc chiến về giá cả cũng rất căng thẳng, giữa một môi trường cạnh tranh đầy áp lực như vậy thì yếu tố đầu tiên và quan trọng thu hút người tiêu dùng chính là giá cả. Nhận thức được vấn đề đó, hầu hết các thương hiệu đều cố gắng duy trì một mức giá ổn định, hợp lý, đồng thời áp dụng kết hợp nhiều chương trình giảm giá nhằm lôi kéo khách hàng về phía doanh nghiệp mình. Với sự cạnh tranh này thì chủ thể hưởng được lợi ích nhiều nhất chính là người tiêu dùng.

Quay trở lại với cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài ở thị trường thức ăn nhanh thì với tình thế giằng co như hiện nay thì sẽ còn rất lâu mới có thể ngả ngũ. Nói như một chuyên gia thị trường thì “Cuộc chiến kinh doanh thức ăn nhanh lúc này là cuộc chạy đua đường trường về vốn và kinh nghiệm chứ không phải là cuộc chạy điền kinh”. Cho nên các doanh nghiệp cần phải xây dựng một chiến lược tốt để có thể phát triển lâu dài.

CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI TẠI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Cùng với việc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường ghi nhận trong Biểu cam kết dịch vụ, theo đó, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường đối với dịch vụ bảo hiểm cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài được hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam thông qua nhiều hình thức, một trong số đó là hình thức hiện diện thương mại. Tính từ thời điểm đó cho đến nay đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm thành lập doanh nghiệp, chi nhánh của công ty mình tại Việt Nam.

shutterstock_256975261

Hiện tại theo số liệu thống kê thì thị trường bảo hiểm Việt Nam có 61 doanh nghiệp. Trong đó, có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 1 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tiêu biểu hiện nay như Manulife; AIA; Liberty; Generali… Và số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như vậy, liệu có hướng đi nào cho các doanh nghiệp nước ngoài mới gia nhập vào thị trường Việt Nam. Với một thị trường tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro như dịch vụ bảo hiểm thì hướng đi đúng đắn nhất vẫn là phát triển từng bước, chậm rãi nhưng chắc chắn. Việc đầu tiên các doanh nghiệp nước ngoài cần làm khi kinh doanh ở Việt Nam là phải xác định được phân khúc khách hàng mục tiêu, mang tính chiến lược. Sau đó tiến hành mở rộng các kênh phân phối mà nòng cốt vẫn là tập trung vào các thành phố lớn, các khu vực kinh tế trọng điểm như Hà Nội; Hồ Chí Minh…bên cạnh việc mở rộng chi nhánh ra những khu vực khác trên toàn quốc. Đặc biệt để nâng cao lợi thế cạnh tranh, cũng như giảm thiểu đối thủ cạnh tranh thì các doanh nghiệp nước ngoài cũng cần đẩy mạnh quan hệ hợp tác đối với các doanh nghiệp trong nước đã có mạng lưới phân phối cũng như chiếm giữ một thị phần nhất định trên thị trường. Đây cũng chính là xu thế chung hiện nay. Một số liên doanh giữa doanh nghiệp nước ngoài với các công ty bảo hiểm trong nước như liên doanh giữa Bảo Việt và Tokyo Marine and Fire Insurance; liên doanh giữa Bảo Minh với Mitsui Insurance Company, Sompo Japan Insurance Inc…

Ngoài ra, những doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với hậu thuẫn tài chính mạnh từ công ty mẹ khi đầu tư vào thị trường Việt Nam, để chiếm lĩnh thị trường, bên cạnh các chiến lược marketing, quảng cáo, tiếp thị thì các doanh nghiệp nước ngoài còn chấp nhận đưa ra nhiều sản phẩm với giá thấp; thực hiện nhiều chiến lược ưu đãi, hạ giá thành sản phẩm, chấp nhận chịu lỗ trong thời gian dài. Chiến lược của các công ty nước ngoài mạnh về tiềm lực tài chính này tạo ra sự cạnh tranh không cân sức nhưng được phép với các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại, đặc biệt là đối với doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có nguồn vốn còn khiêm tốn.

shutterstock_209965909

Như vậy, để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường năng động và cạnh tranh gay gắt như thị trường bảo hiểm của Việt Nam hiện nay, với những công ty lớn, hoạt động lâu năm, nắm giữ hầu hết thị phần thì các doanh nghiệp nước ngoài mới thành lập, bước đầu cần phải hoạch định được cho mình chiến lược kinh doanh rõ ràng, tập trung vào việc xác định chiến lược thâm nhập thị trường, đối tượng khách hàng hướng tới; chiến lược phát triển thị trường – mở rộng các kênh phân phối; chiến lược nâng cao hiệu quả nhân sự, marketing, hệ thống thông tin…

Monday, 16 November 2015

SỰ CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.

Cùng với việc hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); ký kết các Hiệp định thương mai song phương với các quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc; Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA) và mới đây là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam đang ngày càng trở thành thị trường thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Các số liệu thống kê cho thấy, doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng, quy mô và kết quả sản xuất kinh doanh. Đồng thời với việc gia tăng về số lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự gia tăng về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong cùng lĩnh vực với nhau. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài này sẽ có những tác động tích cực đối với nền kinh tế của Việt Nam.

shutterstock_213207697

Tác động tích cực đầu tiên có thể kể đến là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau là một trong những yếu tố giúp bảo vệ các doanh nghiệp trong nước. Đứng trước việc mở cửa cho các quốc gia nước ngoài tiếp cận thị trường trong nước, vấn đề hàng đầu mà Nhà nước ta luôn lo ngại đó là việc sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài với ưu thế kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến; tiềm lực tài chính mạnh; quy mô lớn, có thể làm áp đảo và chiếm lĩnh toàn bộ thị trường trong nước; đặt các doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, cũng với việc đồng thời mở cửa cho nhiều quốc gia, làm xuất hiện sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau đã phần nào giúp bảo vệ các doanh nghiệp trong nước khỏi hiện tượng trên vì đứng trước việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngang tầm với nhau về các yếu tố, năng lực cạnh tranh có thể sẽ phân tán cũng như làm giảm bớt ưu thế của các doanh nghiệp nước ngoài. Việc không có sự xuất hiện của “thống lĩnh thị trường” sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước “dễ thở” hơn.

shutterstock_274905419

Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài còn là động lực to lớn thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Một nền kinh tế mạnh là một nền kinh tế mà các doanh nghiệp trong nó có năng lực cạnh tranh cao. Chính sự xuất hiện của những doanh nghiệp nước ngoài quy mô lớn, năng lực cạnh tranh mạnh không những buộc các doanh nghiệp trong nước mà còn làm cho các doanh nghiệp nước ngoài khác cũng phải nâng cao và hoàn thiện khả năng cạnh tranh của mình. Hay có thể nói trong sự cạnh tranh lẫn nhau, các doanh nghiệp nước ngoài đã cùng nhau hoàn thiện và phát triển. Sự phát triển của các doanh nghiệp là nền tảng giúp nền kinh tế phát triển một cách bền vững. Nếu không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau, như trên đã phân tích thì trong một số lĩnh vực mà nền sản xuất trong nước còn non kém, rất có thể sẽ có tình trạng cạnh tranh độc quyền. Việc cạnh tranh độc quyền này luôn là vấn đề mà các quốc gia muốn tránh vì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Chủ thể độc quyền có thể kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến giá cả, phân phối hàng hóa buộc các chủ thể khác phải tuân theo tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, gây bất ổn cho nền kinh tế

Đứng trên phương diện người tiêu dùng, thì việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tạo cơ hội cho người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận được hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao của các nước trên thế giới với mức giá tốt nhất.

Tóm lại, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài – là những chủ thể có năng lực cạnh tranh cao với nhau, đã có nhiều tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện tại

THÓI QUEN TIÊU DÙNG VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Hoạt động cạnh tranh là sự tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận, trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan luôn đưa ra nhiều chiến lược cạnh tranh với mục đích ngăn chặn sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới, loại bỏ đối thủ cạnh tranh hiện có. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nước ngoài cùng lúc có mục tiêu gia nhập một thị trường mới thì việc cạnh tranh giành thị phần còn diễn ra gay gắt hơn. Trước cuộc chiến khốc liệt như vậy, để tạo được sự bức phá ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác các doanh nghiệp nước ngoài cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, toàn diện về nhiều mặt, đặc biệt là phải trang bị cho mình những hiểu biết về thị trường mình sắp sửa đầu tư .

shutterstock_15123814

Xuất phát từ sự khác nhau về xã hội, chính trị, văn hóa nên nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng có những đặc điểm riêng biệt, thói quen người tiêu dùng khác nhau luôn là một yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp nước ngoài khi gia nhập vào thị trường cần phải nắm rõ. Để có thể thành công trong hoạt động đầu tư, cũng như trong sự cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thì điều đầu tiên các doanh nghiệp hướng đến là phải có thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình. Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường tiêu thụ luôn là vấn đề đặt ra hàng đầu, và để có thể giải quyết được vấn đề này thì điều đầu tiên các doanh nghiệp cầm làm là tìm hiểu, nghiên cứu về thị trường của nước mình sắp sửa đầu tư nhằm tìm ra được loại sản phẩm mà người tiêu dùng cần, nhu cầu sản phẩm trên thị trường, định mức tiêu dùng cho sản phẩm… làm tốt vấn đề này sẽ giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có thể đứng vững được trong sự cạnh tranh.

shutterstock_172632248

Thói quen của người tiêu dùng Việt Nam chịu chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Về văn hóa, người Việt Nam thường bị chi phối bởi yếu tố văn hóa mang bản sắc dân tộc khi lựa chọn sản phẩm. Về xã hội, xuất phát từ xã hội “làng – xã” lâu đời, người tiêu dùng Việt Nam thường có thị hiếu mua sắm theo số đông, nghĩa là quyết định mua sản phẩm nào thường bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những người xung quanh như gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp…Trong hoạt động cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác, đặc biệt là với các doanh nghiệp trong nước, vốn đã có sự am hiểu về thị trường sâu sắc thì việc thông qua các công cụ, nghiệp vụ kinh doanh nhằm tìm hiểu thị trường một cách toàn diện, sâu rộng trước khi quyết định tung ra một sản phẩm hoặc chiến lược cạnh tranh nào sẽ có ý nghĩa mang tính chất sống còn đối với doanh nghiệp nước ngoài. Thực tiễn cạnh tranh đã chứng minh có rất nhiều sản phẩm của các nhà đầu tư nước ngoài tung ra tại thị trường Việt Nam bị thất bại do không nắm rõ các yếu tố trên, không thấu hiểu được thói quen tiêu dùng của người Việt chẳng hạn như trường hợp của bia Foster’s, Zokor; cà phê Birdy…

Nói tóm lại, để có thể gia nhập một thị trường vốn đã ổn định, đồng thời còn có ưu thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường thì bên cạnh các yếu tố khác như tài chính; thương hiệu; công nghệ…thì các doanh nghiệp nước ngoài cũng cần phải hiểu rõ thị trường, nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng và còn cần phải biết tạo điểm nhấn khác biệt so với những đối thủ còn lại

LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Lợi thế cạnh trạnh là những yếu tố, đặc điểm mà nhờ có chúng doanh nghiệp có thể có những ưu thể vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Hay nói cách khác lợi thế cạnh tranh là thế mạnh của một doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nước ngoài khi gia nhập vào thị trường Việt Nam có thể còn có hạn chế về mặc tiếp cận thị trường, mạng lưới tiêu thụ nhưng bên cạnh đó có những thế mạnh mà nếu phát huy được những mặt này thì sẽ trở thành những lợi thế cạnh tranh giúp cạnh tranh trực diện vợi các doanh nghiệp trong nước, các lợi thế có thể kể đến như chất lượng sản phẩm, giá cả, tiềm lực về tài chính, năng lực quản lý. trình độ của đội ngũ lao động…

shutterstock_310608884

  • Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là điều kiện đầu tiên và tiên quyết quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp cho dù có chiến lược tốt đến đâu nhưng nếu chất lượng sản phẩm không đảm bảo thì cũng không thể tồn tại lâu dài trên thị trường. Trong mối tương quan với các doanh nghiệp trong nước thì các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh cũng một sản phẩm, dịch vụ thông thường sẽ có chất lượng được đánh giá là tốt hơn bởi lẽ các doanh nghiệp nước ngoài đã có kinh nghiệm lâu đời hoặc có công nghệ kỹ thuật cao và tiên tiến, phát triển hơn ngành sản xuất trong nước.
  • Giá cả: Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng của sự cạnh tranh, thu hút tiêu dùng. Người tiêu dùng ở thị trường nào cũng luôn mong muốn có được sản phẩm chất lượng với mức giá tối ưu. Mức giá tối ưu ở đây không phải là mức giá thấp nhất mà là mức giá tương xứng nhất với sản phẩm mình mua được. Việc làm sao để có thể tạo ra được một sản phẩm tốt, giá thành thấp luôn là thách thức của nhiều doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam, với tiềm lực tài chính mạnh, áp dụng công nghệ hiện đại cũng như biết cách sử dụng nguồn lao động giá rẻ ở nước ta thì việc có lợi thế hơn về mặt giá cả đối với các doanh nghiệp trong nước là điều dễ hiểu.

shutterstock_214015885

  • Tiềm lực tài chính: Các doanh nghiệp tiến quân vào Việt Nam, phần lớn là các doanh nghiệp đã có vị trí nhất định ở quốc gia nó, như Samsung, Toyota, Pepsi, Cocacola… Các doanh nghiệp này so với doanh nghiệp Việt Nam thì có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn vì có hậu thuẫn rất mạnh mẽ từ các công ty mẹ ở nước ngoài. Tiềm lực về tài chính này sẽ là lợi thế cạnh tranh đắc lực giúp cho các doanh nghiệp này trong cuộc chiến tranh giành thị phần với các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là khi họ thực hiện được các chiến lược cạnh tranh như liên doanh thôn tính, gây áp lực thị trường; các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm giá…
  • Năng lực quản lý: Nếu như năng lực quản lý hiện nay là điểm yếu của các doanh nghiệp trong nước khi mà các doanh nghiệp thường xuất phát từ các công ty gia đình, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và cảm tính. Ngược lại thì đây là một lợi thế cạnh tranh đáng kể của các doanh nghiệp nước ngoài khi mà các nhân sự cấp cao đều là những nhà quản lý chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, góp phần không nhỏ trong việc giúp các doanh nghiệp hoạt động theo đúng phương hướng và chiến lược phát triển.

Vì vậy có thể nói rằng cả các yếu tố kể trên bao gồm chất lượng sản phẩm, hình thức mẫu mã sản phẩm, giá cả tiềm lực tài chính, trình độ lao động thiết bị kỹ thuật,… là những lợi thế cạnh tranh to lớn của các doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường Việt Nam, trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

CẠNH TRANH GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TẠI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM

Kinh doanh bán lẻ là hoạt động kinh doanh bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng là cá nhân hoặc các tổ chức kinh tế mua để tiêu dùng nội bộ. Với đặc điểm dân số đông, trẻ, có thu nhập sau thuế tăng trưởng mạnh thị trường bán lẻ của Việt Nam hiện nay được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Những năm vừa qua, hàng loạt các thương hiệu bán lẻ lớn trên thế giới đã tiến quân vào thị trường Việt Nam, dẫn đến những thay đổi mang tính đột phá, có thể kể đến những cái tên như AEON (Nhật Bản); Lotte (Hàn Quốc); FairPrice (Singapore); Robinsons (Thái Lan)…Hoặc gần đây nhất là thông tin “ông lớn” Walmart muốn đầu tư và mở các siêu thị bán lẻ tại Việt Nam. Những điều này để chỉ ra rằng vấn đề cạnh tranh trên thị trường bán lẻ tai Việt Nam đang diễn ra vô cùng gay gắt. Điều này phần nào giúp cho thị trường bán lẻ của Việt Nam những gần đây phát triển khởi sắc nhưng đồng thời nó cũng dẫn đến một vấn đề mà Việt Nam phải đối mắt, đó là, với sức ép cạnh tranh như hiện nay các doanh nghiệp phải làm cách nào để có thể trụ vững?

shutterstock_319847780

Trước sự gia nhập thị trường một cách nhanh chóng, mạnh mẽ của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam là làm sao để vẫn có thể giữ được thị phần và phát triển bền vững. Còn đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì vấn đề đặt ra cũng không kém phần khó khăn là làm sao để vừa cạnh tranh thị phần với các doanh nghiệp nội địa, đồng thời cạnh tranh thị phần với các doanh nghiệp nước ngoài khác. Thực tế cho thấy không ít các thương hiệu lớn đã từng thất bại trong việc gia nhập vào thị trường, bị đánh bật khỏi thị trường nội địa như trường hợp của Walmart tại thị trường Đức hay Carrefour tại thị trường Hàn Quốc

Chính vì lẽ đó, xu hướng hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hiện nay đó là tăng cường sự liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp bán lẻ nội địa để phát triển. Việc liên doanh này giúp hai bên có thể tận dụng ưu thế của nhau, vừa giúp giảm bớt cạnh tranh trên thị trường vừa giúp mở rộng các kênh phân phối. Nếu như các doanh nghiệp nước ngoài có ưu thế về năng lực quản lý, năng lực tài chính, công nghệ thì các doanh nghiệp trong nước sẽ tận dụng lợi thế am hiểu thị trường, thói quen người tiêu dùng… Việc ra đời hàng loạt các doanh nghiệp bán lẻ liên doanh hiện nay như Liên doanh Saigon Co.op – FairPrice; Citimart – Aeon; Fivimart – Aeon; Central Group – Nguyễn Kim… là một minh chứng cho xu hướng này hiện nay.

shutterstock_190429922

Tuy nhiên, chính việc liên doanh  giữa các doanh nghiệp lại đặt ra một vấn đề lo lắng về việc các doanh nghiệp trong nước. Bởi vì với tiềm lực tài chính còn hạn chế và thiếu kinh nghiệm so với doanh nghiệp nước ngoài nếu không cẩn thận thì nguy cơ  doanh nghiệp trong nước bị các nhà đầu tư nước ngoài “đá” ra khỏi thị trường, mua lại thị phần liên doanh là rất có thể xảy ra. Hẳn là chúng ta vẫn chưa quên bài học đắt giá về việc liên doanh để thôn tính của Coca cola với Vinafimex. Do đó, để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài trong tình hình hiện nay, bên cạnh việc hợp tác mở rộng liên doanh đề tồn tại và phát triển các doanh nghiệp Việt Nam phải có những thay đổi tích cực, có những kế hoạch chiến lược và đối sách nâng cao nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chính bản thân mình. Bởi lẽ hệ lụy của việc biến mất của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước không chỉ đơn giản là việc mất thị trường mà còn có thể dẫn tới sự giãy chết của nền sản xuất trong nước thay vào đó là các hàng hóa của nước ngoài bởi hoạt động bán lẻ chính là kênh phân phối hàng hóa của các nhà sản xuất tới người tiêu dùng và chính các doanh nghiệp bán lẻ là người được quyền quyết định về hàng hóa bày bán trong hệ thống của mình. Do đó việc để các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ hầu hết các hệ thống bán lẻ lớn có thể sẽ dẫn đến việc hàng loạt các sản phẩm của nước ngoài sẽ đổ bộ vào thị trường trong nước đồng thời các hàng hóa, các thương hiệu của Việt Nam cũng có thể bị hạn chế cung ứng, hoặc cạnh tranh gay gắt…Do vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước tại thị trường bán lẻ hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng.

CẠNH TRANH GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI – ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA KẺ ĐẾN SAU

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường Việt Nam chủ yếu là cạnh tranh trong nội bộ ngành, diễn ra chủ yếu giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực, sản xuất cùng một loại sản phẩm hay cung ứng cùng một loại dịch vụ, hướng đến một phân khúc thị trường như nhau. Sự cạnh tranh này có thể xuất phát từ việc gia nhập thị trường vào cùng một thời điểm những cũng có thể có chủ thể tới trước, chủ thể tới sau. Mặc dù thời điểm gia nhập thị trường không có quá nhiều tác động ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của các chủ thể nhưng nó phần nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định tới yếu tố cạnh tranh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nước ngoài với nhau.

shutterstock_186338660

Đầu tiên là ưu điểm thì việc các doanh nghiệp tham gia vào thị trường sau, đặc biệt là trong các lĩnh vực đặc thù, trước đây chưa từng có tại thị trường nội địa Việt Nam, sẽ có ưu thế là có thể tận dụng được những kết quả của các doanh nghiệp trước đó đã tạo ra, chẳng hạn như KFC là thương hiệu đầu tiên tiên phong vào Việt Nam kinh doanh với lĩnh vực thức ăn nhanh (fastfood), vào thời điểm đó fastfood còn rất xa lạ đối với nước ta và do đó KFC đã mất 7 năm chịu lỗ để thay đổi thói quen tiêu dùng, định hình phong cách fastfood ở Việt Nam. Từ đó mở đường cho hàng loạt các thương hiệu thức ăn nhanh của nước ngoài gia nhập vào thị trường như Lotteria, Jolibee. Burger King và mới đây nhất là McDonald’s. Việc tiến vào thị trường vào thời điểm sau như vậy, các doanh nghiệp đã có thể “hưởng lợi” được từ các doanh nghiệp đi trước, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp.

Bên cạnh ưu điểm đó thì có một nhược điểm rất lớn mà các doanh nghiệp gia nhập vào thị trường sau phải đối mặt đó là với việc tiên phong mở đầu thì thị phần sản phẩm của các doanh nghiệp đi trước là tương đối lớn, buộc các doanh nghiệp sau phải đối mặt với một thách thức làm sao có thể tìm được chỗ đứng trên thị trường và giành thị phần về cho doanh nghiệp mình. Đó cũng là vấn đề mà Coca Cola gặp phải khi tiến vào thị trường Việt Nam vào năm 1994. Vào thời điểm đó đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Coca Cola là Pepsi đã có mặt tại thị trường Việt Nam và với ưu thế người tiên phong, Pepsi giai đoạn đó đã vượt lên tất cả đối thủ cạnh tranh trong nước và chiếm vị trí thống lĩnh thị trường nước ngọt có ga tại Việt Nam. Do đó, khi tiến vào thị trường Việt Nam, Coca Cola đã ngay lập tức phải tiến hành hoạt động đại hạ giá để giành thị phần. Tuy nhiên, thời điểm Coca Cola vào thị trường thì môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng đã khác nhiều, đặc biệt là với sự hoàn thiện của pháp luật về hoạt động khuyến mại nên việc giành thị phần của Coca Cola diễn ra không mấy hiệu quả. Cùng với kinh nghiệm gia nhập thị trường sớm hơn, Pepsi có kênh phân phối lớn và am hiểu thị trường hơn nên việc giành thị phần của Coca Cola cũng khó khăn hơn. Và cho đến bây giờ sau hơn nhiều năm bền bỉ cuộc chiến thị phần giữa hai doanh nghiệp lớn này vẫn chưa kết thúc.

shutterstock_151253825

Từ những phân tích trên có thể nói, việc gia nhập thị trường muôn hơn so với các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp nước ngoài có ưu điểm nhưng cũng có hạn chế nhất định. Và để giành được ưu thế thượng phong thì các doanh nghiệp nà phải có những chiến lược sao cho có thể vận dụng tốt những ưu điểm để khắc phục hạn chế của mình.

Thương trường như chiến trường, với nền kinh tế hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp nước ngoài trong cuộc đua cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước và với doanh nghiệp của các nước khác phải tập trung toàn bộ sức lực của mình để hoàn thiện về sản phẩm, giá cả, chiến lược quảng cáo, cũng như các chiến lược khác để có kết quả kinh doanh tốt nhất.